Chương 36: Tà giáo bí tân
Tôi và Tiểu Đạo Lưu Manh đều giật mình kinh hãi, vội hỏi có phải bên phía Tôn Thừa Như xảy ra chuyện gì không, hay là bà ta đã chạy mất rồi?
Đại sư huynh lắc đầu, nói: “Không. Lần này do anh trực tiếp dẫn đội, phối hợp với các tiền bối của Long Hổ Sơn như Ân Đỉnh Tướng, La Đỉnh Toàn cùng những đạo sĩ ẩn tu khác, giăng thiên la địa võng, cuối cùng chặn được Tôn Thừa Như trong con hẻm khu dân cư. Chỉ tiếc là bà già này quá mức khó đối phó, không thể bắt sống, trong tình thế bất đắc dĩ chỉ còn cách đánh chết. Sau đó lục soát nhà bà ta, thu được rất nhiều ấn tín, đạo phù cùng danh sách liên lạc, qua đó xác nhận thân phận thật sự của bà ta chính là người của Tà Linh Giáo —— Nói cho cùng, có thể lôi được tên ma đầu yêu tà ẩn mình trong khu dân cư này ra ánh sáng, phần lớn cũng là nhờ công của em và Tiêu sư đệ.”
Tiểu Đạo Lưu Manh cau mày, nói:“Nếu đã vậy, sao lại thành ra đại họa?”
Đại sư huynh khoát tay: “Đừng vội. Nguyên do trong đó, từ từ nghe anh nói. Có lẽ các em đều từng nghe qua cái tên Tà Linh Giáo, cũng ít nhiều đã tiếp xúc qua — những gì các em gặp ở Hạo Loan Plaza Đông Quan, chính là nó. Nhắc tới Hạo Loan Plaza, anh đã tra các báo cáo liên quan, cũng nghe phân tích từ phòng nghiên cứu trong cục, nơi đó chính là bố cục của một trong Thập Nhị Ma Tinh Mẫn Ma của Tà Linh Giáo.”
“Có lẽ các em vẫn chưa biết Thập Nhị Ma Tinh của Tà Linh Giáo là thứ gì. Anh sẽ nói từ gốc rễ cho các ngươi nghe.”
“Tiền thân của Tà Linh Giáo là Bạch Liên Giáo, tôn giáo phức tạp và thần bí bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Mà Bạch Liên Giáo lại khởi nguồn từ Tịnh Độ Tông của Phật giáo thời Nam Bắc triều. Nó đại diện cho đời sống, tư tưởng, tín ngưỡng và đấu tranh của tầng lớp dân chúng thấp kém trong xã hội Trung Hoa, giữ vai trò hết sức nổi bật trong lịch sử các cuộc khởi nghĩa nông dân. Từ Ma Ni giáo, Minh giáo, ăn chay thờ ma, cho đến Kim Thiền, Vô Vi, Long Hoa, Ngộ Không, Di Lặc, Tịnh Không, Đại Thành, Tam Dương, Hỗn Nguyên, Văn Hương, La Đạo... hàng chục tông phái lớn nhỏ, không kể xiết. Đó là căn nguyên, nên anh không nói tỉ mỉ nữa.”
“Đến cuối đời Thanh, Hồng Tú Toàn lập Bái Thượng Đế Giáo tại Hoa huyện, tỉnh Quảng Nam, rồi khởi nghĩa ở Kim Điền, gây dựng nên Thái Bình Thiên Quốc hùng mạnh, cuốn đi nửa giang sơn, sau đó bị thế lực trong ngoài liên thủ tiêu diệt.”
“Tà Linh Giáo chính là được sáng lập trong bối cảnh ấy, bởi một đại nhân vật của Bạch Liên Giáo có biệt hiệu là Thẩm Lão Tổng. Vì có bối cảnh phương Tây, lão tự xưng là Elred. Giáo phái này dung hợp tinh hoa tư tưởng của Bạch Liên Giáo, Ma Ni giáo, Đạo giáo bản thổ, Phật giáo cùng Cơ Đốc giáo, lấy nỗi sợ diệt thế làm động lực tín ngưỡng, thờ phụng thần hủy diệt Đại Hắc Thiên làm thần tối cao. Chúng tụ tập các tổ chức bí mật của Bạch Liên Giáo, tàn dư Thái Bình Thiên Quốc cùng nhiều thế lực khác, từng có ảnh hưởng cực lớn tại Trung Hoa cũ, xây dựng vô số hồng lư, trong thời loạn lạc ấy đã cắm rễ nảy mầm sâu rộng trong tầng lớp dân gian.”
“Dưới trướng Thẩm Lão Tổng có mười bốn nhân vật kiệt xuất đương thời: tả hữu nhị hộ pháp phụ trách tuần tra, kiểm tra và liên lạc giáo chúng; mười hai người còn lại, kẻ trấn giữ một phương, kẻ nắm giữ trọng trách, đều là những nhân tài kiệt xuất. Truyền thừa qua các đời, mỗi người đều là nhân vật nổi bật của thời đại. Nói vậy có lẽ các em vẫn chưa hình dung rõ, anh lấy hai cái tên cho các ngươi làm ví dụ: theo tài liệu hiện nay trong cục, tên trộm mộ nổi tiếng nhất thời Dân Quốc, Tôn Điện Anh đào Đông Lăng; còn có người thống lĩnh Thanh Bang ở Ma Đô, huynh đệ kết nghĩa của vị ‘ngụy đế’ tiền triều Thường Khải Thân, cả hai đều là thành viên của Thập Nhị Ma Tinh....”
“Đến thời Dân Quốc, Nhật Bản xâm lược, Thẩm Lão Tổng lẩn trốn, không rõ tung tích. Tà Linh Giáo vì lập trường kháng chiến mà chia rẽ, tả hữu hộ pháp và Thập Nhị Ma Tinh tranh đấu lẫn nhau, nội loạn liên miên. Về sau dù tả hộ pháp nhờ có thế lực phương Tây chống lưng mà miễn cưỡng thống nhất giáo phái, nhưng nguyên khí đã tổn hại nặng nề, không còn thành thế lực lớn. Rồi nội chiến bùng nổ, Tân Trung Quốc thành lập, Tà Linh Giáo kẻ đi người tán, dần dần biến mất không dấu vết.”
“Thế nhưng lạc đà gầy còn lớn hơn ngựa. Những năm gần đây, chúng tro tàn lại cháy lên, khắp nơi đều có bóng dáng, cực kỳ hung hăng.”
Theo lời khai của Lỗ Tái bị bắt giữ, thì Tôn Thừa Như chính là vợ của Hắc Ma trong Thập Nhị Ma Tinh. Hắc Ma khi phong trào “phá tứ cựu” diễn ra đã bị đấu tố đến chết, còn Tôn Thừa Như thì may mắn sống sót, vẫn quanh quẩn phát triển Tà Linh Giáo ở khu vực gần thành phố Ảnh Đàm. Bà ta thừa kế phần lớn tà thuật và công pháp của Hắc Ma, tự lập môn hộ riêng, thực lực cực mạnh. Đến thập niên 90, bà ta liên lạc được với vị nguyên soái, chưởng giáo đời mới của Tà Linh phái, mật danh là “Tiểu Phật Gia”, nhờ đó mới giành được tôn vị trong Thập Nhị Ma Tinh. Thanh Hư và Tôn lão thái vốn là bà con xa, chẳng biết vì nguyên do gì mà qua lại thân thiết, Tôn lão thái liền truyền cho Thanh Hư một phần truyền thừa của Hắc Ma, tính toán trăm năm sau để Thanh Hư ngồi vào vị trí của mình.
Đại sư huynh nói với giọng thành khẩn: “Lục Tả à Lục Tả, em đúng là không gặp may. Khi trước em lẻn vào lục phòng của Lý Tình, lại bị Tôn lão thái nhìn thấy. Em chạy được là tốt rồi, hà tất còn để bà ta nhìn rõ rành rành thẻ công tác của mình? Trước đó Triệu Trung Hoa chẳng phải đã dặn em rồi sao, thứ này phải cất kỹ, không được để lộ ra ngoài? Tuy chúng ta ra tay kịp thời, nhưng rốt cuộc bà ta có kịp truyền tin này về giáo nội hay không, có khiến thân phận của em bị phơi bày ngay trước mắt toàn bộ giáo đồ Tà Linh Giáo hay không, những điều đó đều chưa ai biết.”
“Nếu không, thì mọi sự yên ổn. Còn nếu có, e rằng sau này em sẽ phải đối mặt với những phiền toái nối tiếp không dứt...”
Tôi từng nghe danh Tà Linh Giáo không biết bao nhiêu lần, vẫn cứ nghĩ nó chẳng khác mấy với cái năm 99 ấy, nào ngờ căn cơ lại sâu đến vậy, kéo theo cả một đoạn lịch sử dài như thế, cùng vô số nhân vật quen tai. Nếu quả thật là vậy, mà những lời Thanh Hư nói trên xe không phải bịa đặt, thì tôi đúng là gặp phiền phức to rồi.
Nghe đến đây, sắc mặt tôi không khỏi trở nên khổ sở, nói: “Đại sư huynh, cứu em với!”
Đại sư huynh trầm giọng nói: “Đừng hoảng. Bọn anh đã thu được không ít danh sách từ nhà Tôn Thừa Như, mấy ngày nay đang khẩn trương truy bắt những kẻ liên quan, sẽ cố gắng hết sức bảo vệ các em. Nhưng Lục Tả, chuyện anh từng nói với em trước đây, vào làm toàn thời gian trong Cục Tôn Giáo, sang giúp anh, hiện giờ em nghĩ thế nào?”
Tôi cười khổ, nói: “Đại sư huynh, em vốn là hạng người không có chí tiến thủ, cũng chẳng có giác ngộ gì, quen sống nhàn vân dã hạc, người thì lười nhác, chịu không nổi sự gò bó. Thỉnh thoảng giúp một tay thì còn được, chứ ngày ngày ngồi làm việc đúng giờ, cả người sẽ khó chịu vô cùng, không tự tại, cũng chẳng tiêu sái.”
Đại sư huynh thở dài một tiếng: “Em là người trẻ tuổi có tốc độ trưởng thành nhanh nhất mà anh từng thấy trong mấy năm gần đây, lại còn là một cổ sư, không ra làm việc thì thật đáng tiếc. Nhưng em đã nói vậy, anh cũng không ép. Chỉ là em xuất thân giữa chừng, chưa qua huấn luyện và chỉ dạy hệ thống, thủ đoạn khó tránh thiếu hụt. Anh sẽ sắp xếp cho em một lớp huấn luyện tập trung, cũng không cầu em lợi hại đến mức nào, chỉ cần học thêm chút bản lĩnh, có thể tự bảo vệ mình là được.”
Tôi chắp tay làm lễ, chân thành cảm tạ: “Đa tạ đại sư huynh...”
Mọi người lại bàn thêm vài chuyện khác. Đại sư huynh vì không muốn ảnh hưởng đến việc chúng tôi nghỉ ngơi, cũng như công tác truy bắt Tôn Thừa Như và đám dư đảng, nên nói không nhiều. Lão Lâm ở bên cạnh cung kính đứng nghe, không xen lời. Tiểu Đạo Lưu Manh chợt nhớ ra một việc, hỏi rằng: “Lư chủ Lý Tử Khôn mà bọn em gặp ở Hắc Trúc Câu Ba Đông, có phải cũng nằm trong Thập Nhị Ma Tinh không?”
Đại sư huynh hiển nhiên đã nghe báo cáo của Triệu Trung Hoa, gật đầu nói: “Đúng vậy. Lý Tử Khôn ẩn mình trong khe núi suốt mấy chục năm, nhưng vẫn được xếp trong hàng đó. Trong Thập Nhị Ma Tinh, ai còn sống, ai đã chết, ai bặt vô âm tín, người kế nhiệm Thẩm Lão Tổng là Tiểu Phật Gia đều có thể tính ra, cũng xem như một kỳ tài thuật pháp. Chỉ là bí ẩn không lộ diện, mọi việc đều điều khiển trong bóng tối, bao năm nay khiến bọn anh vô cùng đau đầu. Hơn nữa, nghe nói rất nhiều nhân vật đời trước của Tà Linh Giáo đều chưa chết, hoặc hóa thành lệ quỷ, hoặc ký thân làm yêu, ẩn nấp khắp nơi, chờ thời cơ tái xuất, đã trở thành đối thủ lớn nhất của chúng ta trong những năm gần đây.”
Nói xong những bí mật này, thấy tinh thần chúng tôi đã uể oải, đại sư huynh thở dài rời đi, trong dáng vẻ phảng phất nỗi tiếc nuối kiểu “anh tài không vào hũ ta”.
Có điều, chuyện liên hệ lớp huấn luyện cho tôi, anh ấy vẫn nhắc lại lần nữa, nói đến lúc đó sẽ gọi điện cho tôi.
Tôi gật đầu, lại một lần nữa nói lời cảm ơn.
***
Lần này bị thương khá nặng, tôi và Tiểu Đạo Lưu Manh phải nằm viện rất lâu.
Sau đó đại sư huynh luôn bận rộn xử lý đám dư nghiệt của Tôn Thừa Như nên không còn lộ diện nữa, chỉ có lão Lâm thường xuyên đến thăm chúng tôi, thông báo tình hình mới nhất. Ngày hôm sau, Tào Ngạn Quân tới, dẫn theo đám huynh đệ của mình đến cảm tạ tôi. Tuy anh ta biết chính Vọng Nguyệt chân nhân đã tự tay kết liễu tính mạng đồ đệ của mình, nhưng ma thân là do chúng tôi phá, nên vô cùng cảm kích.
Tào Ngạn Quân nói với tôi, khoản hai mươi vạn mà tôi từng nộp khi tham gia hội thỉnh phù đã được hoàn trả, còn Kỳ Lân Thai sau khi giám định xong cũng sẽ được giao lại cho tôi.
Tôi vừa mừng vừa vui. Tôi có chút tiền, nhưng không nhiều, hai mươi vạn đối với tôi là một khoản không nhỏ, còn Kỳ Lân Thai thì bất kể về giá trị hay ý nghĩa kỷ niệm, tôi đều không thể bỏ được. Tất cả những việc này đều là do Tào Ngạn Quân giúp tôi tranh thủ, nếu không thủ tục sẽ rất phiền phức, tôi vội vàng tỏ lời cảm ơn.
Tào Ngạn Quân như muốn nói lại thôi, vỗ nhẹ lên vai tôi, giọng trầm xuống, nói:“Vất vả cho cậu rồi.”
Dịch Văn bị gã đàn em Mặt Chữ Quốc hắt axit sulfuric lên cánh tay, tuy được rửa kịp thời nhưng vẫn để lại sẹo. Tôi cảm thấy rất áy náy, nhưng anh ta lại khá lạc quan, nói rằng sẹo là đặc trưng của đàn ông, giữ lại cũng tốt.
Đối với đám huynh đệ của Tào Ngạn Quân, tôi cũng bày tỏ lòng cảm kích chân thành.
Đến ngày thứ tư, cửa phòng bệnh bị gõ, mấy vị đạo sĩ nét mặt hiền hòa bước vào, có già có trẻ. Họ là người của Thiên Sư Đạo Long Hổ Sơn, vừa bận xong việc phối hợp truy bắt nên giờ mới có thời gian đến thăm chúng tôi. Dẫn đầu là một lão đạo cười lên trông như bà già, tên là Ân Đỉnh Tướng, cao nhân cấp bậc chữ “Đỉnh”, lời lẽ rất ôn hòa, đối với những gì chúng tôi gặp phải thì hết sức áy náy, còn đưa cho tôi một lọ cao thuốc bí chế, nói là trị bỏng đặc biệt hiệu nghiệm.
Chúng tôi rất rộng lượng tỏ ý không sao, nồi canh nào mà chẳng có vài hạt cứt chuột, không thành vấn đề, đừng để bụng.
Hai bên diễn một màn “Tướng tương hòa”, cười đến méo cả mặt, rồi mỗi người một ngả.
(Bánh Tiêu giải thích: 'Tướng tương hòa' gắn liền với điển tích Lận Tương Như và Liêm Pha thời Triệu Quốc, khi Lận Tương Như chủ động nhường nhịn Liên Pha, khuyên Liêm Pha hiểu rằng "hai người cùng hợp sức một nước Triệu mạnh hơn cả thiên hạ", đã giải quyết xung đột và làm Triệu Quốc hùng mạnh.)
Đại sư huynh ở Ảnh Đàm mười ngày, trước khi rời đi lại đến thăm chúng tôi, nói mọi chuyện đã kết thúc, lần này làm khá tốt, nhổ gọn cả ổ Hồng Lư ở Lư Sơn của Tà Linh Giáo. Anh ấy đã cố gắng hết sức, nhưng vẫn dặn tôi tốt nhất nên giữ thái độ khiêm tốn, như vậy sẽ có lợi hơn, tôi tỏ ý đã hiểu. Tôi và Tiểu Đạo Lưu Manh nằm viện gần nửa tháng, đến đầu tháng 1, chúng tôi gặp Lý Tình trong trại giam, hắn đã bị kết án, nhưng không nặng, người tiều tụy hẳn đi, nhờ chúng tôi mang cho ít xà phòng.
Dù đã xuất viện, nhưng trên người vẫn còn thương tích, tôi và Tiểu Đạo Lưu Manh quyết định quay về tỉnh phía Nam tiếp tục điều trị. Còn ông chủ Cố bên Hồng Kông đã gọi điện giục tôi mấy lần, tiện thể qua đó bàn chuyện mở văn phòng làm việc. Phía Mèo Da Hổ đại nhân, cũng xuất hiện một vài vấn đề.
Nhận xét
Đăng nhận xét