Chương 12 - Toàn Chân và Phù Chú
Bát Đại Oản mời tôi, Tiểu Đạo Lưu Manh và A Đông đến dự tiệc. Uống mấy ly rượu xong, xem như ân oán được hóa giải.
Lúc đi vệ sinh, ngang qua sảnh lớn tầng một, tôi lướt qua một bàn đầy đồ ăn thức uống, chiếc mũi thính nhạy của tôi lập tức phát hiện điều bất thường: không lạ gì việc Bát Đại Oản buôn bán ế ẩm, dầu họ dùng lại là loại "dầu cống", thứ chiết xuất từ nước thải, thịt heo, nội tạng và da heo kém chất lượng.
Làm quán ăn mà không có tí lương tâm nào, đúng là đáng đời vắng tanh như chùa bà Đanh.
May mà chúng tôi chưa ăn.
Giờ sự việc đã được giải quyết, cũng không cần vướng vào nữa, nên chúng tôi chuyên tâm vào việc buôn bán. Hôm sau, Tiểu Đạo Lưu Manh tiếp tục bày sạp xem bói kiếm sống, mấy tên du côn đi theo Cung Nhị Mao lại hay ghé qua chỗ anh ta chơi, không ngờ lại kéo được không ít khách, đúng là bất ngờ.
Sang ngày thứ ba kể từ khi Tiểu Đạo Lưu Manh đến Hồng Sơn, anh ta cuối cùng cũng không nhịn được, đòi tôi lấy chiếc gương đồng ra để xem qua một chút.
Tôi cảnh cáo anh ta, nói: “Cái gương này tôi có được đâu dễ, đừng có mà nhân cơ hội cuỗm luôn đó.”
Nói thật là tôi đã bị tên này “chơi xỏ” quá nhiều lần rồi.
Anh ta nổi giận, trừng mắt thổi ria mép, nói: “Bần đạo thèm cái đồ tầm thường đó của cậu chắc? Chỉ là thấy hay thì muốn giúp cậu luyện hóa một phen, coi như là chút tình nghĩa huynh đệ mà thôi. Không cho thì thôi, để mốc trong ngăn kéo cũng chẳng sao.”
Thấy anh ta làm bộ ấm ức, tôi vội vàng xuống nước năn nỉ, anh ta ra vẻ đạo mạo một hồi rồi cũng vui vẻ nhận lời, song dựa theo thông lệ, vẫn không quên bắt chẹt tôi thêm một vạn tệ.
Xem kìa, cái kiểu sống của anh ta đúng là chẳng khác gì chó không bỏ được thói ăn phân.
Tiểu Đạo Lưu Manh cầm chiếc gương đồng trên tay quan sát, không ngừng thở dài. Sau khi quan sát một hồi, nói cho tôi biết đây là loại gương đồng thời Tống – Liêu – Kim, mép mỏng, núm nhỏ, có khắc chữ, đích thị là đồ cổ.
Lão Thượng đó mà cũng mua được thứ này ở vỉa hè với giá bốn ngàn tệ, chẳng rõ là phúc hay họa. Gương đồng vốn có từ xưa, đến thời Minh – Thanh thì thoái trào, đến đời Càn Long nhà Thanh thì hầu như bị gương kính thay thế hoàn toàn. Không rõ tại sao linh thể trong gương này vẫn còn hoạt động được.
Thông thường, chế tác một chiếc gương gồm các bước: đúc khuôn, rót kim loại, gọt giũa, mài bóng và "khai quang". Chiếc gương này hẳn là loại cao cấp thời đó... Ừm, nếu đem bán, chỉ tính giá trị nghệ thuật và lịch sử cũng đã trên cả triệu.
Tôi gạt phăng: “Bớt nói xàm lại, nói thẳng cách luyện hóa pháp khí đi.”
Anh ta niệm một đoạn chú, rồi hai tay nâng gương đồng lên lẩm bẩm tụng niệm, lát sau lại quay sang hỏi tôi: “Sao cậu biết dùng Phược Yêu Chú để trấn áp linh thể trong gương vậy?”
Tôi chỉ vào miếng thẻ gỗ hoè ở ngực: “Tiểu yêu Đóa Đóa chỉ cho tôi.”
Tiểu Đạo Lưu Manh cười ha hả: “Cậu đúng là tìm được một Gia Cát Lượng bản nữ đấy.”
Anh ta nói, đã có linh trong gương thì xử lý dễ thôi. Anh ta quan sát mặt thân và mặt sau gương, cho biết có thể khắc vào đó một phù chú linh trận, biện pháp luyện khí của anh ta được truyền lại từ sư thúc công của anh ta, Mao Sơn Nhất Đại Phù Vương Lý Đạo Tử. Tổng cộng có mười hai loại, nhưng chỉ có năm loại thích hợp với chiếc gương này.
Năm phù chú đó lần lượt là: Cam Lộ Chú, Đấu Mẫu Huyền Linh Bí Chú, Tiến Bạt Vãng Sinh Thần Chú, Giải Oan Kết Chú, và Phá Địa Ngục Chú. Có các công hiệu như:
Cam Lộ Chú: trừ tà, phục hồi tinh lực
Đấu Mẫu Huyền Linh Bí Chú: kết nối linh thể, dưỡng thần
Tiến Bạt Vãng Sanh Chú, Giải Oan Kết Chú: siêu độ, hóa giải oán niệm
Phá Địa Ngục Chú: định cách tà vật, trấn áp quỷ hồn.
Anh ta ngước nhìn tôi, hỏi tôi muốn chọn loại nào.
Tôi hỏi lại: “Nói dài dòng vậy, rốt cuộc có cái nào dùng để đánh nhau không? Tôi giờ yếu như sên, cần gấp một món pháp khí có tính sát thương để phòng thân.”
Tiểu Đạo Lưu Manh gật đầu: “Biết rồi, vậy chọn Phá Địa Ngục Chú đi. Chú này khắc lên gương sẽ kết hợp được với linh thể trong gương, kích hoạt pháp trận, cộng hưởng với thuật pháp của cậu. Có thể phá tà vật, trói quỷ, khá tiện dụng.”
Tôi hưng phấn đến mức cả người run lên bần bật, nói: “Chẳng phải siêu phẩm rồi còn gì?”
Tiểu Đạo Lưu Manh hếch miệng khinh khỉnh: “Cái rắm á, nói mạnh thì cũng mạnh, nhưng cùng lắm chỉ bằng một cái gậy điện chích sói không cần sạc pin thôi. Đạo và khí, Đạo là bản thể tinh thần, là nguyên lý tối cao tồn tại vượt khỏi vật chất, là vĩnh hằng. Còn khí chỉ là công cụ trên con đường tu hành. Chỉ khi bản thân đủ mạnh, mới có thể làm chủ vạn vật.”
Thực ra, tranh luận giữa “Đạo” và “Khí” là một chủ đề lâu đời trong giới đạo sĩ.
Trong Đạo giáo, có hai hệ phái lớn là Toàn Chân đạo và Chính Nhất đạo. Đạo sĩ của Toàn Chân xuất gia, lấy tu tâm dưỡng tính làm chính; còn Chính Nhất đạo cho phép lấy vợ, ăn mặn, dùng phù chú hành pháp. Nếu nói ai thật sự đạt đến đạo hạnh cao, đa phần là người của Toàn Chân đạo. Còn việc luyện phù chú thì tuy dễ học, nhưng lại pha tạp, nhiều kẻ tâm không vững cũng len lỏi vào được, ví dụ như Mao Sơn tông thuộc Chính Nhất đạo.
Mao Sơn kế thừa Thượng Thanh Đại Động Chân Kinh, tu luyện chủ yếu bằng việc tưởng thần, tụng kinh, đôi khi luyện đan, nhưng nổi tiếng nhất là thuật đạo Mao Sơn, vốn được cải tiến từ hắc thuật cổ xưa. Mao Sơn nổi danh khắp thiên hạ, nhưng trong giới Đạo giáo lại không được xem trọng, mỗi miếng ăn miếng uống đều do số mệnh an bài, cũng chỉ là chuyện thường tình mà thôi.
Muốn có sức mạnh mà không giữ được tâm tính, chính là bi kịch của Mao Sơn.
Tiểu Đạo Lưu Manh chỉ nói sơ vậy rồi ngừng, không nhắc nữa. Anh ta đem theo đủ dụng cụ, nhiều thứ nhìn hoa cả mắt. Đáng chú ý nhất là con dao khắc được cải tạo từ lưỡi dao tiện bằng thép trắng phế thải.
Nói thật, kỹ thuật khắc phù của anh ta cao hơn cái nghề coi bói gấp trăm lần. Nhưng anh ta có một tật quái gở, đó là không cho ai đứng xem lúc anh ta làm việc, sợ phân tâm. Không chỉ tôi, ngay cả Mèo Da Hổ đại nhân đang nằm ngủ gật ở đầu giường cũng bị anh ta đuổi ra ngoài, khiến con sâu ngủ này tức đến mức chửi ầm cả nhà, náo loạn một trận.
Tiểu Đạo Lưu Manh ở lì trong phòng suốt ba ngày trời, trừ lúc ăn cơm và đi vệ sinh ra thì hầu như không thấy bóng dáng đâu.
Không điên cuồng thì chẳng sống nổi.
Bên Nhà hàng Miêu Cương về cơ bản đã đi vào quỹ đạo, phần quản lý có A Đông và vợ anh ta đảm nhiệm, cộng thêm Tiểu Trương một tay tôi đè bạt lên, cùng một người anh em của A Căn, cũng đủ để gánh vác công việc. Tôi ngoài việc mỗi tối sáu giờ phải nấu mười món đặc trưng, thì hầu như chẳng cần làm gì nhiều, phần lớn thời gian đều ở nhà nghiền ngẫm những chỗ thâm sâu khó hiểu trong cuốn "Trấn áp sơn loan 12 pháp môn".
Cuốn sách này đúng là một kỳ thư, toàn bộ cuốn sách chia làm mười hai phần: Lập đàn – Giảng đạo – Vu y – Dưỡng cổ – Bùa chú – Cấm chú – Bói toán – Cầu mưa – Viên mộng – khu dịch – Tế thần – Cố thể, mỗi phần đều đủ để người ta dành trọn đời nghiên cứu. Cuốn này đã theo tôi gần một năm, dù ngày đêm dốc lòng học hỏi, nhưng cho đến nay, phần tôi hiểu thấu nhất chỉ là Dưỡng cổ, còn các phần như Bùa chú, Cấm chú, Tế thần thì chỉ mới sơ thông qua loa mà thôi.
Tại sao lại như vậy? Vì tôi không có sư phụ.
Trong Đạo môn có một câu rằng:
“Sư bất vi sư, dĩ thiên địa, vạn vật, chúng nhân vi sư”, nghĩa là “Không có thầy, thì lấy trời đất vạn vật và muôn người làm thầy” gọi là tự học mà thành tài. Nhưng thiên hạ này, mấy ai làm được điều đó? Cái gọi là có thành tựu về đạo thuật, đạo đức, đạo tâm, ai mà không có thầy kề cận dạy dỗ, dụng tâm đào tạo, trải qua gian khổ tôi luyện mà thành? Con người chẳng phải sinh ra đã biết hết thảy, có ai mà không từng mơ hồ lạc lối? Có người dẫn đường thì có thể tránh được cả vạn lần đi sai, còn nếu không, thì con đường trước mặt chắc chắn gập ghềnh.
Như tôi đây, một kẻ gà mờ không có sư phụ, chỉ có mỗi một quyển sách nát theo bên mình, vừa học vừa vấp, đến giờ vẫn chỉ là một “Tiểu Độc Vật” mà thôi.
Cho nên mới nói, sư phụ là căn bản của tu luyện. Không có sư phụ, thì cũng đừng mong có thành tựu gì.
Câu này là thật, Tiểu Đạo Lưu Manh bản lĩnh yếu ớt, ngoài nguyên nhân từng trải qua biến cố lớn mà tôi chưa rõ, thì cũng vì không có sư phụ kề cận chỉ dạy, nên tu hành mãi chẳng tiến bộ. Nhưng ngược lại, sở dĩ anh ta biết được nhiều như vậy, thậm chí còn tinh thông luyện khí và trận pháp khắc chú, hoàn toàn là nhờ có một vị sư thúc công truyền dạy.
Tham vọng của tôi không lớn, chỉ là muốn giúp Đoá Đoá khôi phục hình người, sau đó cưới được Hoàng Phi, sống một cuộc đời an ổn, hạnh phúc.
Nhưng con đường phía trước hiểm trở chông gai, nếu tôi không đủ mạnh, chắc chắn sẽ bị nhấn chìm trong bể khổ này, làm gì còn nói đến an nhiên? Rắc rối chính là như vậy, anh không tìm nó, nó lại tìm anh. Sống trên đời, bảo rằng không vướng chút nhân quả nào, đúng là chuyện nực cười. Thứ gì cũng có thể là giả, chỉ có sức mạnh là vĩnh hằng — đây là quan điểm của phái bùa chú cực đoan, nhưng đôi khi, nó rất có lý.
Sáng ngày thứ tư, như thường lệ, tôi ra công viên nhỏ gần nhà luyện một bài quyền, duỗi gân giãn cốt xong thì mua bữa sáng về nhà. Gõ cửa gọi Tiểu Đạo Lưu Manh, nghe bên trong tiếng ngáy như sấm rền, ầm ầm vang lên. Tôi quay sang hỏi Mèo Da Hổ đại nhân chuyện gì vậy? Nó bĩu môi khinh khỉnh, nói: “Có gì ghê gớm đâu, ba ngày rồi không ngủ, giờ ngủ bù đấy mà, không sao, không sao.” Nói xong lại tiếp tục mổ hạt dưa của nó.
Tôi vui mừng khôn xiết, theo như tôi hiểu về Tiểu Đạo Lưu Manh, tuy anh ta thường ngày phóng khoáng tùy tiện, nhưng một khi đã hứa chuyện gì, thì nhất định sẽ giữ lời.
Giờ anh ta đã ngủ say, điều đó có nghĩa là — việc khắc chú lên gương đồng đã hoàn tất!
Tôi ngửa mặt cười to ba tiếng: "Ha ha ha!"
Quả nhiên, khi đêm xuống, Tiểu Đạo Lưu Manh bước ra khỏi phòng, đưa gương đồng cho tôi, bảo rằng đã làm xong rồi. Tôi đón lấy, nhìn qua thì thấy chiếc gương đồng này so với lúc trước chẳng thay đổi mấy, chỉ là các góc cạnh đã được mài mịn cẩn thận, lớp xanh gỉ chưa được tẩy sạch nhưng lại được xử lý khéo léo thành cảm giác cổ kính liền lạc. Mặt sau gương đồng được khắc ký hiệu uốn lượn như rồng bay phượng múa, bên trên ghi rằng: Cửu U chư tội hồn, thân tùy hương vân phan, định huệ thanh phù hoa, thượng sinh thần vĩnh an...
Tôi lật qua lật lại ngắm ngía, mừng rỡ vô cùng, đúng kiểu yêu không nỡ rời tay. Tiểu Đạo Lưu Manh liền chỉ tôi cách dùng: Gương đồng này có kính linh cư ngụ, pháp trận đã được khắc vào, lúc sử dụng chỉ cần tâm niệm thông suốt với kính linh, sau đó chiếu gương đồng vào tà vật, hô to một tiếng “Vô Lượng Thiên Tôn”, ca tụng đạo tổ của tôi, là sẽ phát huy hiệu lực. Gặp loại yếu ớt thì trực tiếp hút hồn phách vào trong kính, cho kính linh nuốt lấy; nếu gặp địch mạnh thì cũng có thể làm chậm và cản trở, tạo lợi thế tác chiến.
Pháp khí đầu tiên của tôi, tay nắm lấy, lòng vui như mở hội. Hưng phấn tột độ, tôi bèn lon ton chạy xuống dưới lầu kiếm ngay một con chó để thử nghiệm.
Kết quả tôi bị con chó hoang rượt chạy khắp phố, đến mức phải nhờ Đoá Đoá ra tay mới đuổi được con chó kia đi.
Tôi mất hết tự tin.
Cuộc sống cứ bình lặng trôi như thế. Giữa tháng Sáu, tôi lại nhận được điện thoại hối thúc từ ông chủ Cố, cuối cùng cũng quyết định lên đường đến Đông Phương Minh Châu, để mở mang tầm mắt chốn hoa lệ phù hoa này.
Nhận xét
Đăng nhận xét